Giới tính khác với thiên hướng tính dục


Trong tự nhiên không hẳn mọi thứ chỉ hoàn toàn là đen hoặc trắng mà còn nhiều giá trị khác nằm giữa hai thông số này, điều này cũng không ngoại lệ cho giới tính. Và không chỉ xảy ra cho cơ thể - sinh lý mà còn xảy ra trong nhận thức - tâm lý. Cụ thể, ngoài cơ quan giới tính trên cơ thể hay nhận thức - cảm nhận của mình về GT là nam hoặc nữ, một người sinh ra có thể có cơ quan giới tính, hay với nhận thức về giới tính của mình  nằm trong những khoảng giữa của 2 trường hợp phổ biến là nam hay nữ. Cho nên giữa nam và nữ là một chuổi nhiều giá trị tạo thành “quan phổ giới tính” (gender spectrum) Lại đôi khi, cơ thể (bộ phận giới tính) / não bộ (cảm nhận, nhận thức) / và trái tim (tình cảm) lại không cùng một tiếng nói.

Thực tế cho thấy có rất nhiều sắc thái, do đó nếu chọn nhìn bằng lăng kính chỉ gồm nam và nữ, bạn đã bỏ sót rất nhiều những cá nhân đa dạng khác vốn vẫn luôn hiện hữu. Thay vào đó, nếu xem giới tính là một dải màu đa sắc thái, khi ấy bạn
- tự do xác định mọi thứ liên quan đến giới tính của mình.
- chúng ta sẽ có cái nhìn sâu sắc, đa chiều hơn về giới tính sinh học, về giới tính tự nhận thức, về cách thể hiện và xu hướng tính dục.
- những phạm trù tách bạch, riêng biệt nhưng luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau làm nên bản sắc của mỗi cá nhân.

GIỚI TÍNH
1. Giới tínhthể hiện bề ngoài (Gender Expression)
Cách mà một người thể hiện bản sắc giới tính của họ, điển hình thông qua ngoại hình, cách ăn mặc và hành vi của họ.
2. Giới tính sinh học (Biological Sex)
Đề cập đến các cơ quan giới tính, hormone và nhiễm sắc thể khách quan mà bạn sở hữu
3. Giới tính tâm lý (Gender Identity)
Giới tính mà một cá nhân cảm nhận về bản thân được gọi Giới tính tâm lý. Giới tính tâm lý vốn ăn sâu trong nhận thức mỗi người, là thứ không ngừng nói với bạn mỗi ngày rằng bạn là nam hay nữ, hoặc một giới khác..
4. Người chuyển giới (Transgender)
Là người với trạng thái tâm lý giới tính không phù hợp với giới tính của sinh học (cơ thể). Chẳng hạn, một người sinh ra với cơ thể nam nhưng cảm nhận giới tính mình là nữ hoặc một người sinh ra với cơ thể nữ nhưng lại cảm nhận giới tính của mình là nam.

THIÊN HƯỚNG tính dục (Sexual orientation)
Sự  thu hút về cơ thể hay tình cảm hoặc cả hai của một cá nhân đối với người khác.
Theo đó, bạn có thể xác định mình là người

yêu người khác giới - dị tính (heterosexual)
yêu người cùng giới - đồng tính (homosexual)
yêu cả hai giới nam và nữ - song tính (bisexual)
yêu nhiều giới ngoài nam và nữ - Polysexual ( đa tính luyến ái)
không yêu lẫn không có hấp dẫn tình dục với bất kì giới nào - vô tính (asexual)
Yêu tất cả mọi giới - toàn tính (pansexual)

Hay chọn dùng bất kỳ tên gọi hoặc thuật ngữ nào khác mà bạn cho rằng sẽ phản ánh đúng nhất xu hướng tính dục của mình. Nhìn hàng loạt những tên gọi trên đây, hẳn bạn cũng đã thấy xu hướng tính dục của con người là vo cùng đa dạng.

Pomosexual - người không xác định xu hướng tính dục của mình
Greysexual - bán vô tính luyến ái - chỉ thi thoảng mới cảm nhận được sự hấp dẫn tình dục.
Androsexual - những người bị hấp dẫn tình dục với tính nam hoặc nam giới.
Gynesexual - những người bị hấp dẫn tình dục với tính nữ hoặc nữ giới.
Ceterosexual - những người bị hấp dẫn tình dục với những người không nhìn nhận bản thân là nam hay nữ
Demisexual - á tính luyến ái - chỉ những người không có hấp dẫn tình dục với một ai trừ người họ có cảm tình và sự tin tưởng.
Fraysexual - những người chỉ có hấp dẫn tình dục đối với những ai chưa có được cảm tình của họ, khi họ đã có được cảm tình thì sự hấp dẫn tình dục đó sẽ mất đi.
Autochorisexual - người không hoặc ít có hấp dẫn tình dục, tuy nhiên vẫn tưởng tượng ra bạn tình hoặc vào vai người xem.
Autosexual - người bị hấp dẫn tình dục với chính bản thân mình.
Cupiosexual - người mong muốn được tham gia vào hoạt động tình dục nhưng lại không có hấp dẫn về mặt tình dục
Reciprosexual - chỉ những người không có hấp dẫn tình dục với ai trừ khi họ biết người kia bị hấp dẫn với mình trước
Questioning - thắc mắc - những người này không chắc chắn về xu hướng tính dục của mình hoặc đang khám phá cảm giác của mình.
Bi-curious - tò mò song tính - chỉ người không xác định mình là song tính hoặc đồng tính luyến ái nhưng cảm thấy tò mò về mối quan hệ hoặc hành vi tình dục với người cùng giới.